LTS:Tuần vietnam giới thiệu Phần 2 tìm hiểu “Chủ nghĩa đế quốc hàng hải TQ, Luật hồ và phán quyết của Tòa trọng tài Quốc tế trong vụ Philippines kiện TQ: Tầm nhìn từ LB Nga” của tấn sĩ người Nga, Pavel Gudev.
Cố công chứng minh "quyền lịch sử"
TQ nỗ lực từng bước tuyên truyền hiện trạng “vùng nước lịch sử” đối với gần như Hồ Đông. Theo ý kiến của vài chuyên gia và chính trị gia TQ, việc cái gọi là tuyến đường 9 đoạn ko phải vấp phải sự phản đối nào sau khi hình thành trên bản đồ từ năm 1947 - 2009 là chứng cứ cho thấy những vùng nước thuộc Biển Đông bên trong tuyến đường 9 đoạn có “tính lịch sử”.
Dựa vào tuyên bố “vùng nước lịch sử”, TQ tự cho mình kĩ năng mở mang vùng nội thủy và hải phận trên các vùng nước ở Hồ Đông một cách thức hợp pháp. Do Bắc Kinh khỏe khoắn trong việc giới hạn các tổ quốc khác thi hành một số loại hoạt động kinh tế hàng hải cố định, có thể phán đoán rằng yếu tố này lên đường trong khoảng việc họ hiểu đó là “vùng nội thủy lịch sử”.
Điều này có nghĩa là chủ quyền trọn vẹn của Bắc Kinh sẽ không chỉ giới hạn trên rất nhiều các đảo trong khuôn khổ con đường 9 đoạn, mà còn trên toàn thể khu vực hàng hải (khoảng 80% tổng diện tích Hồ Đông, tương đương 2.8 triệu km2) và không phận bên trên, đáy hồ cũng như lớp đất bên dưới, và cục bộ tài nguyên sinh vật lẫn không sinh vật. Cùng với những yêu sách trên thềm đất liền Nam cực và các vùng nước xung quanh, đây là yêu sách lớn nhất xét về không gian biển và các nguồn khoáng sản đi dĩ nhiên đó.
Lập luận “vùng nước lịch sử” yên cầu phổ thông chứng cứ thuyết phục. Các quốc gia ven biển phải đưa ra được chứng cứ về chủ quyền lâu đời được thực thi một bí quyết rõ ràng đối với vùng biển liền bờ, và rằng họ có vai trò hiểm yếu trong việc bảo đảm an toàn và sản xuất kinh tế ở khu vực đó.
Kiếm được thấy phải củng cố cơ sở bằng cớ, các học giả TQ chứng dẫn những nền móng pháp lý có tính lịch sử. Cụ thể, họ thừa nhận rằng đông đảo các đảo ở Đại dương Đông thậm chí chưa xác định độc lập trong suốt thời nhà Hán ở thế kỉ II TCN; sứ thần TQ ở Campuchia đã đề cập tới quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào thế kỉ III; Biển Đông có lịch sử thuộc vùng lợi ích tổ quốc của TQ từ giữa thế kỉ X và XIV; những đảo này đã xác định trên đa dạng bản đồ TQ trong khoảng thế kỉ XV-XIX; và sau cùng là ngư dân TQ đã có truyền thống đánh cá ở những vùng nước này.
Tuy nhiên, những dẫn chiếu trên cơ sở pháp lý lịch sử, dù được củng cố bởi phiên bản đồ và tài liệu, chẳng thể phân thành bằng cớ đa dạng cho Bắc Kinh. Nguyên nhân là các nhà nước tập quyền qua các thế kỉ, khác biệt trong thế kỉ XIX và XX khá yếu, không thể kiểm soát hiệu quả các vùng nước ở Biển Đông và các đảo ở đó được.
Trong khi, toàn bộ “cơ sở lịch sử” này chỉ có ý nghĩa cần thiết đối với thời gian mà tranh chấp và mâu thuẫn xung quanh nhân tố Đại dương Đông dậy sóng. Ở đây là quá trình sau Thế chiến II, trong khoảng 1949 đến giữa thập niên 70. Đương nhiên, trong công đoạn này, Bắc Kinh đã không biểu lộ các yêu sách của mình cách thức công khai.
Bất cập của việc ứng dụng tình trạng vùng nội thủy có tính lịch sử can dự đến sự thiếu vắng những chỉ tiêu rõ ràng nhằm xác định tình trạng đó trong Công ước về Luật biển 1982. Các đại biểu tại Đại hội III Liên Thích hợp quốc về Luật biển không muốn kích hoạt thêm hiện trạng leo thang yêu sách đối với vùng nước lịch sử, cho nên trong Công ước 1982 không có chỗ nào đề cập tới những tiêu chuẩn tạo nên hạ tầng pháp lý lịch sử, cũng như dựa trên những tiêu chí nào mà các vũng/vịnh rộng hơn 24 dặm có thể được xếp là có tính lịch sử.
Phổ biến năm sau khi UNCLOS được kí kết, các quốc gia thực thi mở màn mở rộng số lượng những ngoại lệ can dự tới vũng/vịnh, xem đây là các vùng nước lịch sử. Trước đó, yếu tố này chỉ có thể áp dụng cho các vũng/vịnh có chiều rộng cửa vịnh tối đa là 24 dặm (hoặc hai lần chiều rộng tối đa của lãnh hải), nhưng sau đó phần lớn các yêu sách đều can dự đến vũng/vịnh với chiều rộng cửa vịnh thường lớn hơn 24 dặm phần nhiều.
Thêm vào đó, các quyền lịch sử khởi đầu được đưa ra không chỉ liên quan đến vũng/vịnh, mà còn với các hồ bé dại hơn, do đặc điểm địa lý mà rất giống vịnh. Sự mở mang ngoại lệ này là do thực tế có một vài đại dương bé bỏng hơn vũng/vịnh đa số được tuyên bố là có tính lịch sử.
Qui định quốc tế đã xuất hiện 3 mục tiêu căn bản cho việc xác lập quyền tài phán hợp pháp đối với vùng nước lịch sử được thừa nhận đa dạng trong những điều kiện sau:
- Vị trí địa lý khác lạ của vùng nước (khác biệt cách thức xa hành lang hàng hải quốc tế);
- Lợi ích khác biệt về bình yên và kinh tế của nước nhà ven biển (giá trị của vùng nước cũng như khoáng sản đi kèm đối với nền kinh tế của khu vực ven biển thuộc quốc gia đó hay thậm chí đối với cả giang sơn đó);
- Yêu cầu chủ quan của quốc gia ven biển nhằm tìm kiếm trong khoảng các đất nước khác sự công nhận bằng khoán lịch sử dưới dạng thừa nhận ngầm (im lặng) chủ quyền đích thực của bản thân và ít rộng rãi duyệt việc thực thi quyền lực (hoặc độc lập) một cách lâu đời, liên tiếp và hòa bình (không ngăn cách).
Tính đến phần nhiều các cảnh huống này, cũng như xét thấy việc xây dựng pháp luật hàng hải quốc tế có can dự tới vùng nước lịch sử chủ yếu hướng đến việc tạo ra tập quán thông lệ chứ chẳng phải quy phạm hiệp ước, các nước nhà ven đại dương đã vận dụng quy giễu cợt pháp lý này đối với phổ quát vùng hàng hải không giống nhau, bao gồm cả hồ.
Chẳng hạn, theo sườn pháp lý Xô Viết, toàn cục khu vực đại dương Bắc cực tiếp giáp vùng biển của nước này (đại dương Bắc Seberia, đại dương Kara, đại dương Laptev, Chukchi), cũng như một vài eo đại dương Bắc cực đã được xem là có tính lịch sử.
Moscow lập luận rằng tuyến tuyến đường Biển Bắc (NSR) là tuyến giao thông nội bộ tổ quốc thuộc độc lập của Nga, nước có đặc quyền giữ vững lưu thông hàng hải qua đó, khác biệt là qua các eo đại dương Bắc cực thuộc Nga nơi vắt qua quần đảo Novosibirskiye và quần đảo Severnaya Zemlya.
Trong bất cứ trường thích hợp nào, điểm khác lạ cơ bản giữa yêu sách của Nga và TQ nằm ở chỗ Liên bang Xô Viết trước đó tuyên bố chủ quyền đối với các hồ Bắc cực, vùng nước nơi sóng biển vốn chỉ dạt vào bờ một nước là Liên bang Xô Viết (USSR), như là nội thủy có tính lịch sử của nước này. Hình như đó, TQ muốn sử dụng quy chế giễu pháp lý này để tuyên bố độc lập đối với cả Đại dương Đông nơi có rộng rãi quốc gia có đường bờ đại dương, như vn, Malaysia, Philippines, Brunei…
Thực tế thực thi pháp luật quả đât có những tiền lệ khi khu vực hàng hải của hơn một nước giáp đại dương được coi là vùng nước lịch sử hoặc các vũng/vịnh lịch sử. Trong trường thích hợp Đại dương Đông, tiền lệ này là hoàn toàn bất khả, trừ khi có sự đồng thuận của tất cả các quốc gia trong khu vực. Nhưng địa điểm quan trọng của Biển Đông đối với hàng hải quốc tế cũng như các hoạt động kinh tế khác không chuẩn y đổi mới tình trạng pháp lý của khu vực này, nhất là khi điều đó chỉ nhằm phục vụ cho ích lợi của một nước TQ.
Phớt lờ luật pháp UNCLOS
Theo Công ước về Luật hồ 1982 thì Đại dương Đông là hồ nửa kì khôi (semi-enclosed sea). Vấn đề 122 định nghĩa loại đại dương này như sau:
“Trong khuôn khổ của Công ước, “hồ kín đáo và nửa kín đáo” là các vịnh biển, vũng/vịnh bé nhỏ hoặc biển bao quanh bởi hai hoặc rộng rãi non sông và có thông với một hồ khác hoặc đại dương bởi một hạn hẹp hoặc bao gồm cục bộ/đa số lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nhị hay rộng rãi đất nước ven đại dương”.
Điều 123 “Hợp tác giữa các tổ quốc ven biển kì dị hoặc nửa kì dị” đề nghị rằng:
“Các quốc gia ven đại dương kì lạ hoặc nửa kì quặc nên hợp tác với nhau trong việc thực thi chủ quyền và thực hiện các nghĩa vụ chiếu theo Công ước này. Để thi hành điều này, các đối tác phải nỗ lực, theo cách thức trực tiếp hoặc ưng chuẩn một đơn vị khu vực thích hợp trong việc:
(a) Phối hợp quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật đại dương;
(b) Phối phù hợp thực hiện các quyền và bổn phận có liên quan đến việc kiểm soát an ninh và bảo tàng môi trường hồ;
(c) Phối thích hợp trong các chế độ nghiên cứu công nghệ và tiến hành, khi thích hợp, các chương trình hợp tác nghiên cứu trong khu vực;
(d) Khi thích hợp, mời các đất nước hoặc các công ty quốc tế khác có vồ cập nhằm phù hợp tác với họ trong việc hoàn thiện các quy định của điều này”.
Trên thực tiễn, yêu sách của TQ đối với Hồ Đông coi đây là nội thủy bên trong các con phố 9 đoạn đã hoàn toàn phớt lờ các pháp luật của Công ước 1982 trong việc phát triển hợp tác đa phương giữa các tổ quốc trong hồ kì lạ.
Pavel Gudev, TS, Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế Primakov, Viện Hàn lâm Khoa học Nga (IMEMO)
*Bài viết lược trích nghiên cứu của Pavel Gudev. Các tiêu đề chính, tiêu đề phụ do Tuần vn đặt.
Trong các phần sau, tác giả bài viết sẽ phân tách cụ thể vài că cứ pháp lý của Tòa Trọng tài Toàn cầu trong “vụ kiện Hồ Đông”.
. / Vietnamnet
Xem tại: Tạp Chí Đàn Ông
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét